Cây đa

Bài – ảnh: Trần Công Nhung
Lũy tre xanh, cây đa, bến nước là hình ảnh quen thuộc của hầu hết người Việt Nam. Những hình ảnh thân thương ấy có từ khi chúng ta mới chào đời rồi như hình với bóng theo nhau mãi dù mình có phiêu bạt phương nào. Nhắc đến quê nhà là những hình ảnh ấy lại hiện ra, bến nước đầu làng, cây đa đầu đình… Ở miền Bắc làng nào cũng có cây đa, từ xa nhìn bóng cây đa là biết vị trí làng, biết nơi mình ở…Cây đa gần gũi như vậy nhưng ít ai “tâm sự” với cây đa, tìm hiểu gốc gác cây đa.

Về mặt khoa học, theo các nhà thực vật, đa phát xuất từ Ấn Ðộ, tên Ficus Bengalensis, có thể phát triển thành cây khổng lồ,tán rộng vài nghìn mét vuông. Cây đa lớn nhất còn sống tại Pune (Ấn Ðộ), tán rộng 800m. Ða mọc từ hột, sống như loài tầm gởi, nhờ chim mà đa được truyền đi khắp nơi. Từ một ngọn cây cổ thụ, rễ đa tủa xuống ôm trùm “cây mẹ”, đến một ngày nào đó “cây mẹ” biến mất chỉ còn lại gốc đa khổng lồ. Có những cây đa ôm luônngôi miếu, phủ cả cổng tam quan (1). Ða thích hợp vùng nhiệt đới khí hậu ẩm. Cây đa đầu tiên ở Mỹ do Edison trồng tại Fort Myers (Florida). Tại Úc người ta tìm thấy đa mọc hoang ở vùng Ðông Bắc và trung tâm Queenland (1989).

Hải Phòng, có một cây đa 13 gốc ở xóm Trại, xã Ðằng Giang, quận Ngô Quyền. Ðây là cây đa nhiều gốc nhất Việt Nam. Mỗi tháng vào ngày rằm, mồng một, dân chúng đến thắp nhang, nhất là đêm giao thừa, đông như trẩy hội. Khu Tây Thiên trên ngọn núi Thạch Bàn thuộc dãy Tam Ðảo (Vĩnh Phúc), có cây đa 9 gốc, gốc rễ cấu tạo lạ lùng.
Về mặt lợi ích cây đa không thể so sánh với tre, bạch đàn, cau, mít…nhưng về mặt “tinh thần”, cây đa mặc nhiên được đặt ở ngôi thứ cao hơn cả.

Người xưa thường trồng đa cạnh đình chùa, lăng miếu. Làng quê chỉ mỗi cây đa là lâu đời, lâu đến nổi dân làng tincóthần linh trú ngụ. Ai ngang qua cây đa cũng cúi đầu cung kính. Trong dân gian có thành ngữ: “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”, “Cây thị có ma, cây đa có thần”.
Mỗi khi nhà có trẻ nhỏ đau ốm, bố mẹ mang nhang đèn ra khấn vái gốc cây đa. Mê tín không thể chữa lành bệnh, nhưng cũng giúp người dân tạm thời yên tâm.

Có những niềm tin làm tan gia bại sản, hủy hoại mọi giá trị tinh thần từ đời này qua đời khác mới đáng sợ. Ðôi khi cũng chỉ vì đời sống quá cay nghiệt mà tin để cầu may. Tin vào “ma bạc” (số đề), tin vào tà giáo, tin lang vườn, tin bọn bất lương bán trôn nuôi miệng…
Ða sống lâu đời, chứng nhân bao sự đổi thay của nhân tình thế thái. Bởi vậy, mỗi khi phải đi xa, lòng lại nhớ nhà qua tình cảm cây đa:

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
có sông sâu lờ lững vờn quanh
êm xuôi về Nam…
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
đồng quê mơ màng!

(Làng tôi- nhạc Chung Quân)

Cây đa dần dà trở thành nơi gửi gắm, nơi tưởng nhớ, nơi nhắc nhở những hoài niệm, những tình cảm một thời của nhiều người. Cuộc tình đã qua nhưng hình ảnh vẫn còn nơi cây đa bến nước:
Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

Dân gian còn mượn hình ảnh cây đa để nói lên thói tục, cách xử thế, “Cây đa cậy Thần, Thần cậy cây đa”, như kiểu nói: “Có đi có lại mới toại lòng nhau”.
Cây đa được coi là nơi “vãng lai” của Thần Thánh nhưng lại là chỗ bình dân, không như nơi đình chùa có ngôi thứ trên dưới. Cạnh gốc đa thường có hàng nước chè xanh. Dân làng sau một ngày cấy cày mệt nhọc, về ngang gốc đa tự do ngồi nghỉ, chẳng phải phép tắc, nghỉ ngơi chuyện vãn, lắm khi bố láo bố lếu cũng chẳng sợ Thánh Thần.
Không tiền ngồi gốc cây đa

Có tiền thì hãy lân la vào hàng
Gốc đa cũng là nơi hẹn hò, tâm sự của trai gái trong làng.
Em đang dệt vải quay tơ
Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao.

Ngày trước, giữa làng tôi có cây đa to, bọn trẻ thường leo trèo, dùng đá băm cho đa chảy mủ, để khô làm kẹo cao su nhai. Cũng gốc đa này mỗi buổi sáng người mục tử của làng, thổi mấy hồi tù và, dân làng lùa trâu bò đến gửi. Chiều nghe tiếng tù và, đến gốc đa nhận trâu bò về. Sau mùa gặt, tùy theo trâu bò nhiều ít mà đong lúa cho người chăn. Sự phân công, giao ướcgiữa người dân quê thật đơn giản. Họ sống bằng tình cảm và lòng tin cậy. Không phải rắc rối biên nhận biên lai, chỉ có mỗi gốc đa làm chứng. Chẳng ai gian lận, tình làng nghĩa xóm đầm ấm bốn mùa. Tôi tin những ai đã một thờigần gũi với cây đa bóng cả, với lũy tre xanh, với vườn cau, với bờ ao giếng làng…, sẽ mãi mãi xốn xang khi nghe điệu hát câu hò về đồng quê thôn dã, nghe nhắc lại tiếng chày cối gạo đêm trăng.

Cây đa cũng có vị trí trong kho tàng văn học bình dân, nhiều huyền thoại về cây đa. Ðiệu hò “Lý cây đa”, cây đa trong sự tích “Thằng Cuội trên Cung Quảng”. Cây đa không là giống cây quý trong vườn Thượng Uyển, không phải cây cho lớp người cao sang đài các làm cảnh, cây đa bình dị và đường bệ chững chạc. Cây đa như đấng đại trượng phu ít nói mà thâm hậu. Số đông người mình thường nhầm lẫn cây đa với cây đề, sanh, si…cứ thấy cây cao lớn, cổ xưa đều gọi là đa. Có lẽ nhờ tuổi tác, vóc dáng, đa được tôn lên hàng đại diện làng cổ thụ, nên cứ thế mà gọi cho tiện.

Từ lâu lắm tôi đã nghe danh cây đa Ðình Bảng, cây đa Thổ Hà. Mấy năm trước đây, tôi đã tìm về Ðình Bảng để xem cây đa. Ðến nơi, cảnh trí làm tôi thất vọng. Ngôi đình to lớn vạm vỡ mà khuôn viên thì trống trơn, hoa cảnh lèo tèo. Chẳng khác gì một vị đại thần ngồi đấy mà không người hầu. Cảnh đình vắng vẻ, trong đình bày biện lộn xộn như sau ngày lễ hội, một hai cụ già đang đánh cờ. Tôi hỏi thăm mấy người ngồi làm việc phía bàn bên, tưởng họ vui vẻ cho biết đôi điều về cây đa, họ lại tỏ ra khó khăn nghi kỵ, nhìn tôi như một kẻ gián điệp. Họ hỏi gốc gác giấy tờ tinh tinh. Tôi trả lời qua loa rồi tìm cách rút lui. Cây đa không còn nữa mà người thì không thiện cảm, ở lại cũng chẳng được gì. Tôi cũng đã về Bắc Giang tìm cây đa làng Thổ Hà. Ðến nơi, cây đa chết tự bao giờ. Hỏi thăm một bác ở cận đình, ông cho biết: “Cây đa xưa cao lớn có bộ rễ rất đẹp, rễ to như cột nhà, ăn từ cành cao xuống đất, nhiều người đến chụp hình”. Ðúng vậy, tôi đã được xem ảnh do một lão tiền bối chụp, tôi hứa sẽ có ngày đến thăm.
– Cây đa chết từ bao giờ hả bác?
– Từ bao giờ thì không biết, nhưng nó ngã xuống năm 1980.
– Còn cây đa này?
– Cây này trồng năm 1960.
Vậy cũng đã 40 năm. Bốn mươi năm, nửa đời người, cây đa chỉ như cậu bé còn cắp sách đến trường. Tại thành phố Hà Nội, Sài Gòn cũng còn một số cây đa nhưng không nổi tiếng. Thành phố Ðồng Hới quê tôi, cũng còn sót lại cây đa đường Huỳnh Côn (trước 54) nay đã bị cắt xén, mất hết vẻ oai nghi của một gốc đa cổ thụ, giờ chỉ là cây lấy bóng mát và trang trí cho ngôi đình.

Vật đổi sao dời là lẽ thường tình, buồn thay, lòng người cũng thay đổi, chạy theo những phù phiếm không tưởng, đánh mất bao nhiêu châu báu của tiền nhân để lại. Kẻ có lòng chỉ biết hoài niệm nhớ thương.

Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

.
Trần Công Nhung
________________
_______________


Tin sách
Sách Quê Hương Qua Ống Kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu)
xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
6357 E. Mono St. Fresno, CA. 93727
email: trannhungcong46@gmail.com
Tel.: (816) 988-5040