Kênh Vĩnh Tế

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Quần thể di tích thắng cảnh vùng Châu Châu Ðốc gồm: Miếu bà Chúa Xứ, Tây Am cổ tự, chùa Phật Lớn, lăng Thoại Ngọc Hầu…Chủ điểm chính là Miếu Bà Chú Xứ. Trước khi đến thăm Miếu Bà Chúa, chúng ta tìm hiểu về vợ chồng vị quan Thoại Ngọc Hầu, bởi vị quan này có công rất lớn trong việc xây dựng Miếu Bà cũng như công cuộc khai hoang vùng Châu Ðốc Hà Tiên mà việc đào kênh Vĩnh Tế là đáng kể hơn cả…

Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên,
Ghe thuyền xuôi ngược bán buôn dập dìu.

Tên gọi Vĩnh Tế được đặt theo tên vợ cả của Thoại Ngọc Hầu là bà Châu Thị Vĩnh Tế (1766-1826) hay còn có tên khác là Châu Thị Tế. Bà là người cù lao Dài, nay thuộc xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long và là trưởng nữ của ông Châu Huy (có sách chép là Châu Vĩnh Huy) và bà Ðỗ Thị Toán. Thời chúa Nguyễn, Nguyễn Văn Thoại theo mẹ rời làng An Hải (nay thuộc quận Sơn Trà, thành phố Ðà Nẵng) di cư vào Nam sinh sống ở cù lao Dài nên đã gặp bà Vĩnh Tế và cưới bà tại đây vào năm 1788.

Bà Vĩnh Tế nổi tiếng là người vợ hiền đức, tận tụy, đảm đang, đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp lẫy lừng của chồng. Bà còn là người có công xây dựng miếu Bà Chúa Xứ núi Sam – Châu Ðốc. Khi Thoại Ngọc Hầu được vua giao trọng trách đào con kênh nối liền từ Châu Ðốc đến Hà Tiên, bà đã hết lòng giúp chồng chăm lo đại sự. Những lúc chồng bận việc công cán, bà đã thay chồng lãnh phần đôn đốc, coi ngó việc đào kênh, tiếng nhân đức của bà được nhân dân truyền tụng. Lúc bấy giờ dân gian có câu:

Nước Nam trai sắc gái tài,
Gương bà Châu thị lưu đời ngàn năm.

Ðể tuyên dương công trạng của vợ chồng Thoại Ngọc Hầu và thể theo lòng dân mến mộ, vua Minh Mạng cho lấy tên chồng bà là Nguyễn Văn Thoại đặt tên kênh “Thoại Hà”, núi “Thoại Sơn”, kênh Châu Ðốc – Hà Tiên là “Vĩnh Tế Hà”, núi Sam gần đấy là “Vĩnh Tế Sơn” và làng cạnh núi là “Vĩnh Tế Thôn”. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vua cho chạm hình kênh Vĩnh Tế vào Cao đỉnh (Cao Ðỉnh cao 2,5m, nặng 2601kg) – là đỉnh đồng nặng và cao nhất, trong Cửu đỉnh đặt tại Thế miếu, Huế.

Thoại Ngọc Hầu đã dành cho bà Vĩnh Tế những lời lẽ tốt đẹp trong bia Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế Sơn bi ký (Bia chép núi Vĩnh Tế do vua đặc biệt ban tên) như sau:
“… Năm trước đây, thần phụng mạng xem sóc việc đào kênh Ðông Xuyên, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kênh núi Sập mà đặt tên núi là Thoại Sơn. Ðến nay, hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho là biết tề gia hợp hòa khí, lại hạ cố đến vợ thần là Châu Thị Tế, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là Vĩnh Tế Sơn…”.
Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Tế được người dân An Giang cảm mến, nhớ ơn. Ở huyện Thoại Sơn, ngoài đền thờ, bia đá còn có khu du lịch mang tên Hồ Ông Thoại. Tại chân núi Sam, có một làng mang tên Vĩnh Tế. Hai tiếng “Vĩnh Tế” biểu lộ sự nhớ ơn của nhân dân đối với ông bà Bảo hộ Thoại Ngọc Hầu… Nơi này vẫn còn lưu truyền câu ca dao:

Ði ngang qua cảnh núi Sam
Thấy lăng Ông Lớn hai hàng lụy rơi.
Ông ngồi vì nước vì đời,
Hy sinh tài sản không rời nước non
Nước kênh Vĩnh Tế lờ đờ
Nhớ ông Bảo Hộ dựng cờ chiêu an.

Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại sinh ngày 26 tháng 11 năm Tân Tỵ (1761) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, tại xóm An Trung, làng An Hải, thuộc huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam thời Nguyễn; nay thuộc phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Ðà Nẵng. Cha ông là Nguyễn Văn Lượng, sinh thời làm chức từ thừa, là một chức quan nhỏ chuyên lo việc tế tự tại các đền miếu do nhà nước lập ra. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Tuyết, vợ thứ của ông Lượng.
Nguyễn Văn Thoại sinh ra và lớn lên trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, tiếp theo là phong trào Tây Sơn nổi dậy (1771). Vì thế, mẹ ông phải dẫn ông và hai em lánh nạn vào Nam, cuối cùng định cư ở làng Thới Bình trên cù lao Dài, nằm giữ sông Bang Tra và sông Cổ Chiên; nay thuộc địa phận huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Năm Ðinh Dậu (1777), Nguyễn Văn Thoại (16 tuổi) xin đầu quân tại Ba Giồng (Ðịnh Tường). Năm 1778, ông có mặt trong trận chiến đánh chiếm thành Gia Ðịnh.

Năm 1782, quân Tây Sơn đánh bại quân chúa Nguyễn ở cửa Cần Giờ, ông phò chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy về Ba Giồng (Ðịnh Tường). Từ năm 1784 đến năm 1785, ông theo chúa Nguyễn sang Xiêm La (Thái Lan) hai lần để cầu viện.
Từ năm 1787 đến năm 1789, Nguyễn Văn Thoại có công trong việc thu lại thành Gia Ðịnh nên được phong chức Cai cơ.
Năm 1791, ông được cử là Trấn thủ hải khẩu Tắc Khái (tức cửa Lấp thuộc Bà Rịa).
Năm 1792, ông lại sang Xiêm La, trên đường về đã đánh tan bọn cướp biển Bồ Ðà (Giavanays, người Java). Liên tục các năm 1796, 1797, 1799 ông đều được chúa Nguyễn cử sang nước Xiêm La.
Năm 1800, Nguyễn Văn Thoại được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An. Nhưng đến năm 1801, thì ông bị giáng cấp, xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo, vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh trên.

Năm 1802, chúa Nguyễn thống nhất đất nước, lên ngôi vua hiệu là Gia Long. Trong dịp tặng thưởng các bề tôi có công, Nguyễn Văn Thoại cũng chỉ được phong Khâm sai Thống binh cai cơ, nhận nhiệm vụ ra thu phục Bắc Thành rồi được giữ chức Trấn thủ ở nơi đó. Ít lâu sau ông nhận lệnh làm Trấn thủ Lạng Sơn, rồi lại vào Nam nhận chức Trấn thủ Ðịnh Tường (1808).
Năm 1812, ông sang Cao Miên đón Nặc Ông Chân về Gia Ðịnh. Năm 1813, ông hộ tống Nặc Chân về nước và ở lại nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên.

Ở Cao Miên được ba năm, Thoại Ngọc Hầu được triệu về Huế (1816), rồi nhận chức trấn thủ trấn Vĩnh Thanh (1817). Cũng trong năm này, ông cho lập 5 làng trên cù lao Dài.

Ở trấn Vĩnh Thanh, ông sốt sắng lo việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường, phát triển và bảo vệ vùng đất mới. Các công trình lớn của ông còn để lại cho đời sau là:
– Kênh Thoại Hà: khởi đào vào năm 1818, dài hơn 30 km, nối rạch Ðông Xuyên (Long Xuyên) với ngọn Giá Khê (Rạch Giá). Ðào xong được vua Gia Long đã cho phép lấy tên ông để đặt cho tên núi (Thoại Sơn) và tên kênh (Thoại Hà).
– Kênh Vĩnh Tế: đào theo biên giới Tây Nam nối liền Châu Ðốc-Hà Tiên (tức nối sông Châu Ðốc ra vịnh Thái Lan). Kênh dài hơn 87 km, huy động hàng vạn nhân công thực hiện từ năm 1819-1824 (có hoãn đào 4 lần). Con kênh được đặt tên theo tên vợ chính của ông, phu nhân Châu Thị Tế.
-Lập làng: Năm 1823, ông cho lập 5 làng trên bờ kênh Vĩnh Tế là Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Ðiều, Vĩnh Gia và Vĩnh Thông. Liên quan đến việc mộ dân lập làng của ông, sử nhà Nguyễn có đoạn chép: “Án thủ Châu Ðốc là Thống chế Nguyễn Văn Thụy trước mộ dân dời đến ở đất biên thùy, đặt ra 20 xã thôn, vay của công 1.900 quan tiền và 1.500 phương gạo cho dân, đã hoãn nhiều năm, dân vẫn chưa trả được. Ðến nay Thụy đem của nhà trả bù cho dân”.

– Ðắp dường: Năm 1825, ông cho đắp con đường từ Châu Ðốc lên Lò Gò (tức thị trấn Angkor Borei ngày nay), Sóc Vinh nối các làng với nhau rất tiện lợi trong việc đi lại cho nhân dân, Lộ Núi Sam-Châu Ðốc: dài 5 km, làm từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4.500 nhân công. Làm xong, ông cho khắc bia “Châu Ðốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn, nhưng còn văn bia trong sử sách. Công trình đào kênh Vĩnh Tế kéo dài từ thời tướng Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng trấn Gia Ðịnh Thành (1819-1820) cho đến thời tướng Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Ðịnh Thành (1820-1832) mới xong. Có thể xem hai ông như là “Tổng chi huy” của công trình. Ngoài ra, lần lượt còn có sự góp sức của hai Phó tổng trấn là Trương Tấn Bửu và Trần Văn Năng.

____Trần Công Nhung____________________

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
6357 E. Mono St. Fresno, CA. 93727
email: trannhungcong46@gmail.com
tel.: (816) 988-5040