Lá thư Úc Châu: Nhưn mỡ đòn bánh tét!

Đoàn xuân thu

Ngày Tết, miền Bắc ăn bánh chưng với dưa hành. Chính vì vậy mới có câu đối là: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Miền Trung ăn bánh tét với dưa món (đu đủ, củ kiệu, củ hành tím, cà rốt, ớt hoặc trái su). Miền Nam, nhứt là miệt Lục tỉnh Nam Kỳ ăn bánh tét với củ cải giòn rụm ngâm nước mắm y.
Có người cho rằng bánh tét nguyên ủy là của người Chàm, nước Chiêm Thành (192-1832) phần đất nay thuộc về miền Trung Việt Nam. Rồi “Mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, anh hùng áo vải Nguyễn Huệ (người Tây Sơn, phía Tây Bình Định, miền Trung đất của nước Chiêm Thành ngày cũ) mang quân ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh do Vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà.

Lúc bấy giờ quân lính được nghỉ ngơi, ăn Tết sớm, trước khi đánh vào thành Thăng Long. Trong số quân lính có anh lính nọ được người nhà gửi cho món bánh làm từ gạo nếp, nhân đậu xanh, hình dạng như bánh tét ngày nay.
Anh lính mang bánh mời vua Quang Trung. Vua ăn thấy ngon bèn hỏi thăm về loại bánh này. Anh lính kể, bánh do người vợ ở quê nhà làm gửi cho. Mỗi lần ăn bánh, anh càng thương, càng nhớ vợ nhiều hơn. Anh mắc chứng đau bụng nhưng khi ăn bánh này thì lại không thấy đau nữa (?!) (Chắc anh lính nầy bị đau bao tử)
Cái huyền thoại nầy có nhiều chỗ khó tin, khó thuyết phục. Một là bánh nầy nguyên ủy của Chiêm Thành thì ắt người Chàm đã đặt tên. Thí dụ như “mắm bò hóc” của người Khmer thì mình cũng kêu là “mắm bò hóc” đấy thôi).
Hai là đi lính, vợ ở nhà làm bánh tét gởi cho (?!) Đâu có KBC (khu bưu chính) như sau nầy, biết anh yêu ở đâu mà gởi chớ?

Ba là làm lính trơn dễ gì gặp mặt, kề cận được long nhan để “long nhong” mời Hoàng thượng ăn bánh? Rồi Vua mới đặt tên là bánh Tết?
Tui cho rằng tét bánh ra từng khoanh bằng dây lạt, tước từ thân cây chuối lúc đó hay bằng cọng chỉ cắn vào răng như sau nầy nên nó tên là bánh tét.
Cái tên bánh là do quý phụ nữ quê mình đặt đấy. Bột gạo tráng trên lò cách thủy thì gọi là bánh tráng. Nướng nó cong vồng lên thì gọi bánh phồng. Giống cái lỗ tai heo thì gọi là bánh tai heo. Giống miếng thịt ba rọi thì gọi là bánh da lợn…

Nhân đây mình cũng bàn vô tán ra về mấy cái địa danh của vùng lục tỉnh quê mình luôn. Ngoài cái tên của vua chúa ban cho, chỉ xài tên giấy tờ, còn người dân mình lần đầu tiên đặt chưn tới thấy sao kêu vậy hè. Như Mỹ Tho, tiếng Khmer có nghĩa là con gái đẹp. Có cây cầu bằng qua sông, quẹo đeo giống cái cổ cò thì gọi là cầu Cổ Cò.
Ngay cả cái đất Cần Thơ, nơi sông nước có nhiều cá sặc rằn, nên người Khmer đặt tên là “Kìn Tho”; người Việt mình gọi trại thành Cần Thơ.

Nhưng cũng có ông anh mình, đầu óc địa phương, bác bỏ cách giải nghĩa từ nguyên về địa danh Cần Thơ của Nam bộ học Sơn Nam, cứ khăng khăng cho rằng: Chúa Nguyễn Ánh đêm trăng nghe tiếng đàn, tiếng thơ véo von trên sông Hậu nên đặt tên là Cầm Thi đọc riết thành Cần Thơ (?)
Lịch sử cho thấy rằng Nguyễn Huệ nhứt định truy nã ráo riết nhằm giết cho được Nguyễn Ánh để trừ hậu hoạn, nên trên đường bôn tẩu xang bang xấc bất thì có thời giờ đâu mà cầm với thi chớ?
Phần Cần Thơ, tên loài cá sặc rằn, hay hết biết rồi thì cần chi phải là Cầm Thi mới hay? Sài Gòn là một rừng gòn hay quá thể; sau nầy VC cố gắng xóa tên mà đâu có được nè. Nhưng có cái nầy là tui tin nè. Bánh tét là do mấy bà vợ làm, còn mấy chồng chỉ có biết ăn.

Cái tui tin nhứt bánh tét, để lâu không bị thiu, là một loại quân lương của đồng bào mình nấu sẵn, khi quân ta trẩy qua, bà con hậu phương ủng hộ tiền tuyến, cho mỗi chú lính vài đòn, vắt tòn teng trên đòn gánh. Nhanh và gọn khỏi dừng quân nấu cơm lâu lắc, hầu thần tốc hành quân ra Bắc để rượt Tôn Sĩ Nghị chạy có cờ về bên kia Lưỡng Quảng.
Tui ngờ rằng quân Tàu ăn bánh bao không no lâu bằng quân ta ăn bánh tét. Đói bụng cứ ăn bánh bao hoài hè, cứ lo hẩu xực bánh bao nên quân ta mới thừa cơ xuất kỳ bất ý, tốc chiến tốc thắng rượt quân nó hoảng loạn, chạy sập cả cầu phao bắt qua sông Hồng thuở ấy.

Rồi ông bà mình từ miền Trung vào miền Tây khai khẩn, trên con đường lưu lạc, vác gạo theo để nấu cơm thì nhiêu khê, nặng nề quá! Chi bằng trước khi bỏ xứ lên đường lưu lạc, chơi một nồi bánh tét ế kinh, quảy theo ăn suốt cuộc hành trình khai khẩn đất phương Nam.

Dân làm ruộng quê mình chuyên trồng lúa nước nên có gạo, có nếp là chuyện đương nhiên. Gạo để nấu cơm ăn mỗi ngày; còn nếp để thổi xôi và làm bánh tét. Cũng như Tây trồng lúa mì nên nó ăn bánh mì chớ không ăn cơm như chúng ta.
Tui cũng ngờ rằng bánh tét cũng nếp, cũng nhưn thịt mỡ y chang như cái bánh chưng của đồng bào miền Bắc. Hai loại bánh nầy là anh em ruột thịt với nhau. Bánh chưng có trước làm anh, bánh tét có sau làm em.
Bánh chưng hình vuông vì gói bằng là dong, to bản, khó xé, miền Bắc có rất nhiều. Vào tới miền Trung lá dong ít, lá chuối nhiều, dễ xé, thì thay vì hình vuông bánh chưng dài ra thành đòn bánh tét.
Miền Trung, miền Nam nước Việt mình chuối nhiều cơ man nào mà nói, lá chuối dùng để gói, dây chuối dùng để buộc, trái chuối dùng để làm nhưn.

Bà con mình khoái ăn thịt heo nên không có gì ngạc nhiên khi bánh tét có nhưn mỡ.
Miền Tây mình bánh tét bán lai rai năm mười hai tháng. Thèm cứ ra chợ mua ăn với dưa kiệu, dưa cải, dưa đu đủ xanh, dưa hành, dưa bông điên điển, dưa cà pháo chua chua ăn cho đỡ ngán. Còn muốn mằn mặn thì ăn với củ cải trắng ngâm nước mắm.
Cái sâu sắc của truyền thống tối giao thừa nhà nào cũng có một nồi bánh tét ế kinh để ăn trong ba bữa Tết là vầy: Anh mình yêu và xót em suốt cả năm quần quật hoài trong bếp, giờ tết chỉ có ba hôm, phải cho em khỏi nấu cơm, để mấy em hưởn, rảnh rang, ngày xòe tướng xanh tướng đỏ, đánh bài tứ sắc; còn đêm về rũ chàng, đôi ta sẽ lắc bầu cua.
Thương vợ nhưng không nói ra vì sợ nó nhõng nhẽo, nó lừng, nên bày đặt chuyện ba ngày Tết cấm lửa. Làm gì có chuyện đó. Ông Táo chầu trời bữa 23 âm lịch rồi, đêm giao thừa là ổng đã lù lù trở lại sau một tuần “vacation” quá đã với tiên nữ trên thiên đình rồi giờ về thì phải về nổi lửa lên chớ!
Vậy mà có em cạn suy, kém nghĩ, không hiểu tình anh yêu em bao la như núi Thái Sơn cứ càm ràm chồng chúa vợ tôi miết hè.

Suốt cả năm, viết bài khều nhẹ, chọc quê em yêu, giờ tới Tết tui cũng phải tự mình ăn năn, hối lỗi bằng cách nịnh xạo để em vui. Vì chữ có câu rằng lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng em. Vừa lòng em mà không tốn tiền quà cáp, quần áo, nước hoa gì ráo trọi thì ngu sao mà mình hổng làm?
Nịnh rằng: Em yêu không những là một người làm bánh tét tài hoa mà còn là một nhà họa sĩ. Đòn bánh tét với em là một tác phẩm hội họa xuất sắc như tranh của Picasso.

Nếp trắng em nhuộm màu xanh, hy vọng tình ta không có xót xa bằng màu xanh vắt từ lá dứa hay rau bò ngót. Em là dân Cần Thơ, muốn độc quyền cầm, bánh tét hổng giống ai, chơi luôn màu tím hoa sim, bằng lá cẩm.
Em còn dùng nếp màu trắng, màu xanh, màu tím để chơi vào ruột một đòn bánh chữ “ANH”, đòn còn lại chữ “YÊU”. Em dùng cọng chỉ tét ra hai khoanh đặt lên trên dĩa trẹt, hiện ra hai chữ “ANH YÊU”! Còn cục mỡ làm nhưn, ẩn dụ là em. Ai bảo bánh tét không mang tình thơ mộng đâu nè?

Ôi nhớ xưa hồi mới cưới vợ, em yêu và tui mướn cái nhà trong hẻm 5 đường Lý Thái Tổ Cần Thơ, gần bên hẻm Tài Xỉu và nhà vẽ Bút Ngân.
Cách nhà một căn là một lò bánh tét. Cả ngày những nồi nấu bánh tét to đùng nghi ngút khói và hơi nước. Những đòn bánh tét nấu vừa xong, lấy ra khỏi nồi, nhúng vào nước lạnh, treo lủng lẳng trên những cây sào vắt ngang bờ tường, chờ xe ba bánh đến chở ra chợ bán.
Nhà ấy có một em, da mặt trắng như bông bưởi, (chắc có lẽ nhờ xông hơi nước thoát ra từ nồi nấu bánh tét của má em), làm sở Mỹ, ăn diện rất văn minh, son môi còn thắm Sylvie Vartan.

Sau tháng 1 năm 73, Mỹ theo kế láu cá của Henry Kissinger bắt tay với Tàu cộng bỏ rơi bạn đồng minh, rút chạy về nước hết ráo. Mười giờ ông Chánh về tây, cô ba ở lại lấy thầy thông ngôn. Nhưng em không lấy thầy thông ngôn mà cứ ở vậy, cà nhỏng chống xâm lăng, để mấy thằng háo sắc như tui thèm nhễu nước miếng chơi. Tui “địa” em hoài, nước chảy đá cũng mòn, có lần em cho tui một đòn bánh tét nhưn mỡ. Chu choa ngon thấu trời!
Thiên hạ thường nói: Đường đến tim phải qua cái bao tử của anh. Con gái nó khoái mình là nó cho mình ăn cục mỡ nhưn đòn bánh tét trước; còn cục mỡ của em thì em cứ nhứ nhứ trước miệng mèo.
Bà chằn lửa của tui đánh hơi được cái thói mèo mả gà đồng, mắt em trợn dọc trắng dã làm tui xanh mặt. Qua nhà em bánh tét, tui hổng dám nhìn quanh nhìn quất chỉ gầm mặt bước đi luôn. Thiệt là nhục mà!
Đá mòn sông cạn, sau cuộc biển dâu, tui vọt luôn qua Úc. Có lần thằng bạn còn kẹt trong nước, qua facebook, hỏi tui còn nhớ em ba lò bánh tét năm xưa ngày cũ hay không?

Bây giờ em đã là bà ba Giám đốc công ty bánh tét lá cẩm nổi tiếng nhứt Cần Thơ, bánh tét xuất cảng qua tới tận Singapore cho con cháu của Lý Quang Diệu tét… nên giàu thôi hết biết.
Việt kiều Úc, bèo cỡ chú mầy, chưa chắc rớ được tới cục nhưn mỡ trong đòn bánh tét của em đâu.
Thôi tình ta đã dở dang. Xin hẹn nhau kiếp sau ta tìm thấy nhau.

Đoàn xuân thu
Melbourne