Môn chiêm tinh và y học

305

Huy Lâm

Người ta vẫn luôn cho rằng mọi thứ thuộc về con người đều có thể thay đổi: hình dáng, mái tóc, danh xưng, và thậm chí, luôn cả những bộ phận trên cơ thể chúng ta. Nhưng có một thứ không bao giờ thay đổi, nó dính liền với mỗi người cho tới mãn đời mãn kiếp: ngày sinh. Và trong suốt cuộc đời, đã không biết bao lần chúng ta đã phải viết hay nói to lên những con số ấy: điền một tờ đơn, làm lại bằng lái xe, xin cuốn sổ thông hành v.v… Những con số ngày, tháng, năm sinh ấy không chỉ bất di bất dịch mà còn là điều khá bí ẩn. Sự bí ẩn đó nằm ở môn chiêm tinh học.

Theo một cuộc thăm dò năm 2009 của Harris Poll, có tới 26 phần trăm người Mỹ tin tưởng ở môn chiêm tinh học, hay nói một cách nôm na, là họ tin vào các thày bói. Môn chiêm tinh học dựa vào ngày sinh của một người, sau đó tính đến sự chuyển động cũng như vị trí của các vì tinh tú trên trời để có thể tiên đoán về tương lai và vận số của người đó. Mục đích của môn học này là giúp cho chúng ta hiểu thêm về thế giới chúng ta đang sống xuyên qua chuỗi liên hệ giữa hiện tượng tinh tú và kinh nghiệm sống mà con người rút tỉa được qua bao thời đại. Nay môn học này đã mai một đi nhiều và nếu như còn sót lại chút nào thì là dưới hình thức của cái gọi là “tử vi tây phương” mà đôi khi chúng ta thấy nó xuất hiện trên các trang báo hay trên mạng và thường chỉ chú trọng tới việc giải đoán cho độc giả vài ba chuyện lăng nhăng về tình ái và tiền bạc.

Tuy nhiên, môn chiêm tinh học trước đây đã từng là một môn khoa học dành cho các học giả uyên bác. Ví dụ, nó được dạy trong ngành y khoa và là một trong những môn học nằm trong chương trình giảng dạy từ những ngày đầu của ngành khoa học này. Và trong nhiều thế kỷ sau đó, nó là một trong những môn học thông dụng để giảng dạy cho các sinh viên y khoa có thêm kiến thức và áp dụng môn chiêm tinh trong việc chẩn đoán và chữa bệnh.

Hippocrates, ông tổ của ngành y học phương tây, người mà cho đến ngày nay bất cứ sinh viên y khoa nào cũng đều phải bắt buộc xướng danh ông trong lời thề về sứ mạng của một vị bác sĩ tương lai, và cũng là người được cho là đã nói câu “một vị bác sĩ mà chưa biết môn chiêm tinh học thì chưa thể được gọi là bác sĩ.” Nếu điều này đúng thì quả thật môn chiêm tinh học đóng một vai trò quan trọng trong thời kỳ phôi thai của ngành y học.

Với những tiến bộ khoa học ngày nay, môn chiêm tinh học không còn được ưa chuộng như trước, hay nói rõ hơn, nhiều người không còn tin tưởng vào môn này nữa, thậm chí có người còn cho là vớ vẩn. Điều này dễ hiểu thôi vì ai lại đi ngắm vị trí của mộc tinh hay hoả tinh nằm đâu đó trên trời để quyết định việc dưới đất, trong khi với những tiến bộ của khoa học, người ta có thể dọi ống kính nhìn vào khoảng không gian của vũ trụ cách trái đất 13 tỉ năm ánh sáng cũng như có khả năng chụp một bức ảnh thật rõ nét những vật thể li ti nhỏ chỉ bằng một nửa hạt nguyên tử.

Mặc dù bị dè bỉu như vậy nhưng nếu có hôm nào bất chợt có người nào đó lên tiếng hỏi “Tuổi tử vi (tây phương) của bạn là gì?” thì ta cũng không nên hốt hoảng mà cứ từ tốn và bình tĩnh trả lời. Nếu là người sinh trong khoảng thời gian 20/1-18/2 của năm thì cứ nói là “Bảo bình”, còn nếu như là khoảng thời gian 19/2-20/3 thì nói “Song ngư” v.v… chứ đừng ngại ngần gì hết, vì rất có thể người hỏi muốn tìm hiểu sức khỏe của ta thôi chứ không có ý gì khác.

Phải nói dài dòng như thế là vì kết quả một số cuộc nghiên cứu cho thấy chúng ta sinh ra trong khoảng thời gian nào của năm sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tương lai cuộc sống của chúng ta, nhất là sức khỏe. Một người được sinh ra vào mùa xuân, hạ, thu hay đông thì rất có thể sức khỏe của người đó có nhiều hay ít nguy cơ bị mắc phải những chứng bệnh: tâm thần phân liệt, đa xơ cứng (multiple sclerosis), mất ngủ, tiểu đường loại 1, rối loạn lưỡng cực, dị ứng v.v… Một người được sinh vào mùa nào còn bị ảnh hưởng tới tuổi thọ của người đó nữa.

Sự liên hệ khó hiểu giữa một số căn bệnh và mùa nào trong năm mà một người được sinh ra đến nay vẫn chưa có sự giải thích rõ ràng từ các nhà khoa học. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Đại học Vanderbilt, rất có thể có liên quan đến chiếc đồng hồ sinh học trong cơ thể của mỗi người. Chiếc đồng hồ sinh học đó kiểm soát chu kỳ thức/ngủ của con người. Nhưng chiếc đồng hồ không chỉ báo cho chúng ta thức dậy vào mỗi buổi sáng mà còn làm thêm nhiều công việc khác; nó là trung tâm đối với tất cả các chức năng sinh hoạt trong cuộc sống. Tế bào sinh ra rồi chết đi; các hoạt động của bộ tiêu hóa, phổi, tim, gan; các hành vi trong tương quan xã hội – tất cả đều được điều khiển bởi chiếc đồng hồ sinh học đó.

Nếu chiếc đồng hồ ổn định, mọi việc sẽ diễn ra theo trật tự sắp sẵn, cơ thể của chúng ta hoàn tất được nhiệm vụ giao phó. Vấn đề là ở chỗ cho dù chiếc đồng hồ hoàn hảo tới đâu đi nữa thì nó vẫn phải va chạm với thế giới bên ngoài, nơi mà các tác động của môi trường có thể làm cho nó hoạt động khác đi. Và đó là lúc “mùa sinh” nhập cuộc chơi.

Nói chung trong bốn mùa của năm, chiếc đồng hồ mùa đông làm việc dở nhất, hay nói rõ hơn, người sinh vào mùa đông có nhiều nguy cơ bị mắc chứng tâm thần phân liệt hơn là những người được sinh vào những tháng có nhiều nắng.

Những cuộc nghiên cứu về căn bệnh rối loạn lưỡng cực hay những căn bệnh rối loạn gây ra bởi ảnh hưởng của những mùa sinh trong năm cũng đưa tới những kết quả tương tự. Và điều này có lý do của nó.

Các nhà nghiên cứu giải thích là vì ánh sáng đi vào trong mắt và sau đó một tín hiệu được gửi thẳng vào trong não giúp não tiết ra chất serotonin, là chất kiểm soát cảm xúc, vị giác, và giấc ngủ, và bất cứ sự mất cân bằng nào trong hệ thần kinh sẽ là lý do đưa đến trầm cảm. Có thể nói tất cả các chức năng sinh học của con người đều bị lệ thuộc vào ánh sáng.

Môn chiêm tinh học truyền thống xưa kia đã sai khi khẳng định mặt trăng không gây cho người ta chứng điên loạn. Nhưng cùng lúc, môn học này đã đúng khi cho rằng những ai sinh ra trong mùa đông, khi mặt trăng hiện diện nhiều nhất trên bầu trời, thì dễ bị mắc những chứng bệnh về rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực. Khoa học hiện đại ngày nay cũng đang bắt kịp, và làm rõ nghĩa hơn: Dựa vào nhiều công trình nghiên cứu, nay chúng ta hiểu thêm rằng thiếu ánh sáng mặt trời trong những tháng mùa đông dường như góp phần làm thay đổi trong cách mà các di tố (gene) biểu thị. Nói cách khác, cuộc đời chúng ta bị buộc chặt vào một số hoàn cảnh quanh cuộc sống của chính chúng ta mà không thể dứt ra được.

Mỗi người được sinh ra với một bộ di tố xác định những đặc tính bẩm sinh của người đó, nhưng cách mà những di tố này biểu thị đã bị hoàn cảnh làm khác đi, và hơn nữa, làm sai lệch đi.

Vậy, ta thấy lý thuyết về sự ảnh hưởng của hoàn cảnh và môi trường đối với cuộc đời của chúng ta, trong đó có sức khoẻ, đã được môn chiêm tinh học của ngành y khoa nói đến từ hàng ngàn năm trước rồi. Yếu tố hoàn cảnh ở đây chính là chiếc chìa khoá mà môn chiêm tinh học của ngành y khoa xưa kia muốn dùng để khai mở những bí ẩn khác về con người.

Nói cho cùng, môn y học xưa và nay, dù cách đào tạo có khác nhau, vẫn có chung một mục đích: giúp bệnh nhân sống khoẻ mạnh, biết chống chọi với mầm mống bệnh, và can đảm đối diện với bệnh tật và thậm chí luôn cả tử thần bằng tất cả tinh thần và vật chất mà họ được trang bị.

Nhớ lại xưa kia các cụ đồ nho ở nước ta là những người thuộc tầng lớp có học. Các cụ không chỉ biết thơ phú mà hầu hết trong số các cụ còn biết bắt mạch và bốc thuốc cho bệnh nhân. Ngoài ra các cụ còn biết ít nhiều các môn dịch lý, tử vi, tướng số. Không biết lúc bắt mạch và bốc thuốc, các cụ có xem luôn tướng số hay bấm lá tử vi để đoán thêm về bệnh tình hay sức khoẻ của người đó hay không. Nếu có thì ta thấy các cụ đồ nho nước ta cũng không khác gì những vị bác sĩ tây phương thời xưa phải học thêm môn chiêm tinh vậy.

Về điểm này, quả thật đông và tây đã gặp nhau từ ngàn năm trước.

Huy Lâm