Món quà tuyệt vời nhất

Truyện ngắn Giáng sinh của Philip Van Doren Stern
Đỗ Quân dịch

Philip Van Doren Stern (10/09/1900 – 31/07/1984) là một nhà văn, nhà biên tập, và sử gia chuyên về cuộc Nội Chiến Mỹ.
Truyện ngắn Món Quà Tuyệt Vời Nhất (The Greatest Gift) được viết xong năm 1943. Không tìm được nơi chịu in, tác giả tự thuê in 200 bản rồi gửi đến cho những người thân như thiệp Giáng sinh năm đó.
Từ sự ra đời khiêm tốn đó, truyện đã trở thành một tác phẩm cổ điển của văn học Mỹ. Khi bắt gặp Món Quà Tuyệt Vời Nhất của Van Doren Stern, đạo diễn điện ảnh lừng danh Frank Kappa đã nói đây là câu chuyện “tôi đã tìm kiếm cả đời mình.”
Truyện được Capra chuyển thể thành cuốn phim bất hủ It’s a Wonderful Life với các tài tử James Stewart, Donna Reed và Lionel Barrymore, phát hành vào năm 1946. Cuốn phim nhận được 3 đề cử Oscar cho Phim hay nhất, Nam Tài tử xuất sắc nhất, và Đạo diễn xuất sắc nhất.
Tuy phim không mang về được một giải Oscar nào, It’s a Wonderful Life đã trở thành cuốn phim truyền thống của mỗi mùa Giáng sinh. Phim được Viện Phim ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute) xếp hạng 11 trong số 100 cuốn phim Mỹ hay nhất đã từng được sản xuất.

Cái thị trấn nhỏ đang leo dần lên đồi ấy sáng ngời với những ngọn đèn Giáng sinh đầy màu sắc. Nhưng George Pratt đã không nhìn thấy chúng. Anh tựa vào thành của cây cầu sắt, nhìn đăm chiêu nhìn xuống dòng nước đen. Dòng nước cuốn xoáy như thủy tinh lỏng, thỉnh thoảng một vài mảnh băng tách ra từ bờ sômg, lại trượt xuống phía dưới dòng để rồi bị nuốt vào bóng tối dưới cây cầu.
Nước nhìn rất lạnh. George tự hỏi một người có thể sống được bao lâu trong làn nước đó. Cái màu đen trong suốt của nước có ảnh hưởng kỳ lạ, như thôi miên anh. Anh dựa người vào lan can cầu, nghiêng xa hơn…
“Nếu tôi là anh, tôi sẽ không làm điều đó,” một giọng trầm vang lên bên cạnh anh.
George quay đầu một cách giận dữ về phía người đàn ông nhỏ bé trước nay anh chưa bao giờ thấy. Ông ta là một người khá béo, đã cách tuổi trung niên khá xa, đôi má tròn của ông ta đỏ hồng trong không khí mùa đông như thể vừa mới được cạo nhẵn.
“Ông sẽ không làm việc gì?” George cáu kỉnh hỏi.
“Việc mà anh đang nghĩ đến.”
“Sao ông biết tôi nghĩ gì?”
“Ồ, nghề của chúng tôi buộc chúng tôi phải biết rất nhiều thứ”, người lạ mặt dịu dàng nói.
George tự hỏi người đàn ông này làm nghề gì nhỉ? Ông ấy trông như thứ người ít quan trọng nhất, loại mà bạn vẫn thấy trong đám đông nhưng không bao giờ để ý. Trừ khi bạn nhìn thấy đôi mắt xanh của ông ta. Đúng thế. Bạn không thể quên đôi mắt ấy, vì đó là đôi mắt tử tế nhất, sắc nét nhất mà bạn từng nhìn thấy. Ngoài ra, ông ta chẳng có gì khác để đáng lưu tâm. Ông ta đội một cái mũ lông và cái áo choàng luộm thuộm bị kéo chật ở vùng bụng. Ông ta mang một cái túi nhỏ màu đen. Không phải là loại túi của bác sĩ – cái túi quá lớn, và hình dạng không phù hợp. Đó là cái túi đựng hàng mẫu của những người chào hàng, George thất vọng xác định. Người này có lẽ là một người bán hàng rong, một người có thể đi khắp nơi để chĩa cái mũi nho nhỏ của ông ta vào chuyện của người khác.
“Có vẻ như có tuyết, đúng không?” Người lạ mặt nói, liếc nhìn lên bầu trời u ám. “Thật là vui nếu có được một lễ Giáng sinh tuyết trắng. Thứ này đang ngày càng khan hiếm – nhưng rất nhiều chuyện khác cũng ngày càng thế. ” Ông ta quay nhìn thẳng vào George. “Bây giờ anh ổn chứ?”
“Tất nhiên là tôi ổn. Điều gì làm ông nghĩ rằng tôi không ổn? Tôi…”
George ngưng bặt trước cái nhìn lặng lẽ của người lạ.
Người đàn ông lắc đầu. “Anh phải biết rằng anh không nên nghĩ đến những điều như vậy – mà lại vào đúng cái đêm Giáng sinh! Anh phải nghĩ đến Mary – và cả đến mẹ anh nữa. ”
Khi George sắp buột miệng hỏi người lạ mặt này làm sao ông ta lại có thể biết tên vợ của anh, ông ta nói như đã đoán trước. “Đừng hỏi tôi làm thế nào tôi biết những điều như vậy. Nghề của tôi là phải biết những điều đó. Đó là lý do tại sao tối nay tôi lại đi lối này. Cũng may là tôi đã đến.” Ông ta liếc xuống mặt nước tối đen và rùng mình.
“Vâng, nếu ông biết nhiều đến thế về tôi,” George nói, “Hãy cho tôi chỉ một lý do tại sao tôi lại nên sống.”
Người đàn ông nhỏ bé đó bật ra một tiếng cười khan, “Nào, nào, đời anh có gì mà đến nỗi tệ. Anh có việc làm ở ngân hàng. Có Mary và lũ trẻ. Anh khoẻ mạnh, trẻ trung, và…”
“Và chán ngán hết tất cả mọi thứ!” George gào lên. “Tôi bị mắc kẹt ở đây trong cái ao bùn này này suốt đời, ngày nào cũng làm cái công việc chán ngán. Những người khác đang có những cuộc sống thú vị, nhưng tôi – chà, tôi chỉ là một thư ký ngân hàng ở một thị trấn nhỏ, bị cả quân đội chê. Tôi chưa từng làm được lấy một điều gì thực sự hữu ích hoặc thú vị, và có vẻ như tôi sẽ không bao giờ được làm những điều đó. Thà chết sướng hơn. Đôi khi tôi ước mình chết cho xong. Thực ra, tôi ước gì tôi chưa từng được sinh ra!”
Người đàn ông nhỏ con đứng nhìn anh trong bóng tối dần đậm đen thêm.
“Anh nói gì vậy?” Ông ta dịu dàng hỏi.
“Tôi nói tôi ước mình chưa bao giờ được sinh ra,” George lặp lại.
“Và tôi nói thật đấy.”
Đôi má hồng hào của người lạ mặt sáng lên vì hào hứng. “Thế thì thật tuyệt vời! Anh đã giải quyết hết mọi chuyện. Tôi cứ sợ anh sẽ tạo cho tôi một vài khó khăn, chứ bây giờ anh đã có giải pháp cho mình. Anh ước anh chưa từng ra đời. Được rồi! ĐƯỢC! Anh chưa ra đời! ”
“Ông nói thế nghĩa là gì chứ?” George gầm gừ.
“Anh chưa được sinh ra. Chỉ vậy thôi. Anh chưa được sinh ra. Không ai ở đây biết anh. Anh không có trách nhiệm – không có công việc – không có vợ – không có con. Tại sao, thậm chí anh cũng không có cả một người mẹ nữa. Tất nhiên là anh không thể có rồi. Tất cả các rắc rối của anh đã kết thúc. Tôi rất vui mà nói rằng điều ước của anh đã được chấp thuận – chính thức.”
“Đồ điên!” George khịt mũi và quay đi.
Người lạ chạy theo George và nắm lấy cánh tay anh.
“Anh nên mang nó theo,” ông ta nói, chìa cái túi xách của mình ra. “Nó sẽ mở ra nhiều cánh cửa mà nếu không có nó người ta sẽ sập vào mặt anh.”
“Cửa nào, mặt ai?” George cau mày. “Tôi biết tất cả mọi người ở thị trấn này. Thêm nữa, tôi cũng muốn thấy có ai đó sập cửa vào mặt tôi.”
“Vâng, tôi biết,” người đàn ông nhỏ bé kiên nhẫn nói. “Nhưng cứ nhận đi. Chẳng hại gì cả và nó lại có thể giúp ích.” Ông ta mở túi xách, lôi ra một số bàn chải. “Anh sẽ ngạc nhiên vì sự hữu ích của việc dùng những bàn chải để tự giới thiệu – đặc biệt là những cái bàn chải biếu không. Những cái này đây.” Ông ta lôi ra một cái bàn chải bằng lông nhỏ.
“Tôi sẽ chỉ cho anh cách sử dụng nó.” Ông ta giúi cái túi xách vào bàn tay miễn cưỡng của George và bắt đầu: “Khi bà chủ nhà ra mở cửa, anh đưa cho bà ấy và nói cho nhanh.
Anh nói: ‘Chào Bà. Tôi từ Công ty Làm sạch Thế giới, và tôi muốn kính biếu bà cái bàn chải đẹp và hữu ích này hoàn toàn miễn phí – bà không cần phải phải mua cái gì cả’. Tất nhiên sau đó mọi chuyện sẽ dễ òm. “Bây giờ mời bà thử nó.” Ông ta đẩy cái bàn chải vào tay George.
George bỏ ngay cái bàn chải vào túi, anh lúng túng với cái khóa của cái túi, nhưng cuối cùng cũng bóp đóng nó lại được.
“Xong,” anh nói, và rồi chợt ngừng lại, vì thấy quanh anh chẳng có ai.
Người lạ mặt chắc đã phải trườn vào bụi cây mọc dọc theo bờ sông, George nghĩ thế. Ông ấy chắc chắn sẽ không chơi trốn tìm với anh. Trời gần tối hẳn mỗi phút mỗi lạnh thêm. Anh run rẩy kéo cao cổ áo khoác.
Đèn đường đã được bật lên, và những cây nến Giáng sinh trong cửa sổ đã tỏa ánh sáng dịu dàng. Thị trấn nhỏ trông thật vui vẻ. Rốt cuộc, nơi mà bạn lớn lên là nơi duy nhất trên trái đất bạn có thể cảm thấy thực sự là nhà. George cảm thấy một tình cảm yêu quý bất ngờ bùng lên, ngay cả đối với ông già Hank Biddle khó ưa, ở ngôi nhà mà anh đang đi qua. Anh nhớ lại cuộc cãi vã với Hank lần chiếc xe của anh đã quẹt vào và làm tróc một mẩu vỏ trên cây phong lớn của ông ta. George ngước mắt nhìn lên những cành cây trụi lá đang vươn rộng trong bóng tối. Cái cây này chắc đã phải mọc lên ở chỗ đó từ thời người Da đỏ. Anh cảm thấy một chút ngượng ngùng vì điều tội lỗi anh đã làm. Anh đã không hề dừng lại để xem vết thương của cái cây, vì anh ta thường sợ ông Hank bắt gặp, kể cả việc chỉ để xem nó ra sao. Bây giờ, anh mạnh dạn bước ra đường để kiểm tra thân cây phong khổng lồ.
Chắc ông Hank đã phải sửa lại vết sẹo hoặc sơn đè lên, vì ở thân cây không còn dấu hiệu của chỗ bị xe quẹt vào. George đánh lên một que diêm rồi cúi xuống để nhìn cho kỹ hơn. Rồi anh đứng thẳng người lên, một cảm giác lạ lùng dâng lên trong lòng. Không có vết sẹo nào cả. Vỏ cây phong mịn màng và không có chỗ nào bị hư hại.
Anh nhớ lại những gì người đàn ông nhỏ bé trên cây cầu đã nói với mình. Tất nhiên, mọi thứ ông ta nói chỉ là những điều vô nghĩa, nhưng chuyện vết sẹo không hiện hữu đã làm anh băn khoăn.

Khi đến chỗ nhà ngân hàng, anh thấy có gì đó không ổn. Tòa nhà tối tăm, George nhớ là mình đã bật đèn ở chỗ kho tiền. Anh cũng để ý thấy có ai đó đã kéo màn che cửa sổ lên. Anh chạy vòng ra phía trước. Trên cửa có treo một tấm biển cũ nát. George chỉ có thể đoán ra những chữ trên đó:
CHO THUÊ HOẶC BÁN
Hỏi JAMES SILVA
Địa ốc
Anh nghĩ có lẽ đây là một trò nghịch của mấy thằng bé. Rồi anh nhìn thấy một đống lá nát và những tờ báo xơ xác trên bậc dẫn vào khuôn cửa lúc nàu cũng sạch boong của ngân hàng. Và các cửa sổ cũng trông như thể đã nhiều năm không được lau rửa. Ở bên kia đường, đèn trong văn phòng của Jim Silva vẫn còn sáng. George lao qua đường và đẩy mạnh cửa.
Jim ngước lên khỏi quyển sổ cái của mình, ngạc nhiên. “Tôi có thể giúp gì cho anh, anh bạn trẻ?” Jim nói bằng cái giọng lịch sự mà anh ta vẫn dành cho những người có thể sẽ trở thành khách hàng.
“Ngân hàng,” George hổn hển. “Chuyện gì đã xảy ra với ngân hàng vậy?”
“Tòa nhà ngân hàng cũ?” Jim Silva quay lại và nhìn ra ngoài cửa sổ. “Tôi đâu có thấy gì. Ông có muốn thuê hay mua nó, đúng không? ”
“Anh muốn nói là, ngân hàng đã không còn làm việc nữa?”
“Từ 10 năm nay rồi. Phá sản. Anh là người lạ ở vùng này, phải không?”
George đổ người vào vách tường. “Tôi đã từng ở đây một thời gian,” anh yếu ớt nói. “Ngày đó ngân hàng đang hoạt động tốt. Tôi thậm chí còn biết một số người đã làm việc ở đó.”
“Thế ông có biết một người tên là Marty Jenkins không?”
“Marty Jenkins! Tại sao, anh ta … ” George sắp sửa nói rằng Marty chưa bao giờ làm việc ở ngân hàng – không thể, vì khi họ vừa ra trường, anh ta và George đã cùng xin việc ở đó và George đã được nhận vào làm. Nhưng bây giờ, tất nhiên mọi thứ đã khác. Anh thấy mình phải cẩn thận. “Không, tôi không biết anh ấy,” anh chậm rãi nói. “Không hẳn thế. Tôi đã nghe nói về anh ta.”
“Thế thì có lẽ ông đã nghe nói rằng hắn đã ôm năm mươi ngàn đô la rồi chuồn mất. Đó là lý do tại sao ngân hàng bị phá sản. Vụ đó gây thiệt hại cho gần như tất cả mọi người xung quanh đây. Ánh mắt sắc bén của Silva châm chú vào George. “Tôi đã chợt hy vọng rằng có lẽ ông bạn biết hắn ta đang ở đâu. Chính tôi cũng đã bị mất khá bộn trong vụ sập tiệm đó. Chúng tôi muốn tóm cổ Marty Jenkins.”
“Anh ta còn có một người anh mà? Hình như anh ta có một người anh tên là Arthur.”
“Art ấy à? Thì đúng. Nhưng Art không dính dấp. Anh ta cũng không biết em mình đi đâu. Vụ này ảnh hưởng mạnh đến anh ấy và khiến anh ta rơi vào nghiện rượu. Chuyện quá tệ và khổ cho người vợ. Art lấy một cô gái rất đẹp.”
George lại cảm thấy lòng mình nhói lên một lần nữa. “Anh ta lấy ai?” George hỏi, giọng khản đặc. Cả anh lẫn Art đều đã theo đuổi Mary.
“Một cô tên là Mary Thatcher,” Silva vui vẻ nói. “Cô ấy sống ở trên đồi, ở phía bên này của nhà thờ – Ê! Ông chạy đi đâu vậy?”
Nhưng George đã vọt ra khỏi văn phòng. Anh chạy băng qua tòa nhà ngân hàng trống rỗng và quay lên đồi. Trong một khoảnh khắc anh đã nghĩ đến việc đi thẳng đến chỗ Mary. Ngôi nhà bên cạnh nhà thờ mà cha cô đã tặng cho hai người làm quà cưới.
Đương nhiên Art Jenkins sẽ có được ngôi nhà đó nếu nó lấy Mary. George tự hỏi liệu họ có con không. Rồi anh biết mình không thể đối mặt với Mary – ít nhất là chưa thể. Anh quyết định đến thăm cha mẹ và tìm hiểu thêm về nàng.
Có những ngọn nến đang sáng bên trong cửa sổ của căn nhà nhỏ bị thời tiết vùi giập trên con đường ngang, và một vòng hoa Giáng sinh treo trên tấm kính cửa trước. George kéo cái chốt cổng kêu một tiếng cách rõ to. Một hình thù trong bóng tối trên hiên nhà nhảy vọt lên, gầm gừ. Rồi nó lao mình xuống những bậc thang, sủa dữ dội.
“Brownie!” George hét lên. “Brownie, con chó già ngu ngốc, thôi mà! Mày không biết tao à? Nhưng con chó đã tiến tới một cách nguy hiểm và buộc anh lùi lại sau cánh cổng. Đèn ở hiên nhà sáng lên, cha của George bước ra ngoài để gọi chó. Tiếng sủa giảm xuống thành tiếng gầm gừ giận dữ.
Cha của anh nắm lấy vòng cổ con Brownie trong khi George thận trọng bước qua. Anh có thể nhận ra rằng cha anh không biết anh.
“Thưa có bà chủ ở nhà không?” Anh hỏi.
Cha anh vẫy tay về phía cửa. “Vào đi,” ông thân thiện nói. “Tôi sẽ xích con chó này lại. Nó có thể hung hăng với người lạ.”
Mẹ anh đang đợi ở hành lang, rõ ràng bà không nhận ra anh. George mở bộ đồ mẫu của mình và chộp lấy cái bàn chải đầu tiên anh trông thấy. “Thưa xin chào bà,” anh lịch sự nói. “Tôi là người của Công ty Làm sạch Thế giới. Chúng tôi đang biếu không một cái bàn chải mẫu. Tôi nghĩ bà có thể muốn có một cái. Bà không phải làm gì cả. Không có điều kiện gì cả… ” Giọng anh lúng túng.
Mẹ anh mỉm cười với sự lúng túng của anh. “Tôi cho rằng anh sẽ muốn bán cho tôi một cái gì đó. Tôi không chắc là mình cần có thêm bất cứ một cái bàn chải nào nữa.”
“Không. Tôi không bán gì cả,” anh bảo đảm với bà. “Người bán hàng thường xuyên vài ngày nữa sẽ đi qua đây. Cái này chỉ là – dạ, chỉ là một món quà Giáng sinh của công ty.”
“Thật tử tế quá,” bà nói. “Những người chào hàng các anh trước giờ chưa từng tặng không loại bàn chải tốt như vậy.”
“Đây là một món quà đặc biệt”, anh nói.
Cha anh bước vào phòng khách nhỏ, đóng cửa lại.
“Anh có muốn vào trong nhà ngồi nghỉ một lát không?” Mẹ anh nói. Chắc là anh rất mệt mỏi vì phải đi bộ rất nhiều.”
“Cảm ơn, thưa bà. Tôi xin phép được vào.” Anh bước vào phòng khách, đặt cái túi xuống sàn nhà. Căn phòng trông có vẻ khang khác thế nào đó, mặc dù anh không thể hiểu tại sao.
“Tôi biết kha khá về thị trấn này,” anh mở đầu câu chuyện. “Biết vài người ở thị trấn. Tôi nhớ có một cô gái tên là Mary Thatcher. Nghe nói cô ấy đã lấy Art Jenkins. Chắc là ông bà phải biết họ.”
“Dĩ nhiên,” mẹ anh nói. “Chúng ta biết rõ cô Mary.”
“Họ có con cái gì không?” Anh hỏi với vẻ chẳng lấy gì quan tâm lắm.
“Hai – một trai và một gái.”
George buông ra một tiếng thở dài nghe thật rõ.
“Tội quá, chắc là anh phải mệt lắm,” mẹ anh nói. “Tôi làm cho anh một tách trà nhé.”
“Không, xin bà đừng bận tâm,” anh nói. “Tôi sắp sửa đi ăn tối.”
Anh nhìn quanh phòng khách nhỏ, cố gắng tìm xem tại sao nó lại trông khác. Phía trên bệ lò sưởi có treo một bức ảnh đóng khung, ảnh chụp đứa em trai Harry vào ngày sinh nhật thứ mười sáu của nó. Anh nhớ lại hôm đó hai anh em đã đi đến tiệm ảnh của Potter để chụp ảnh chung với nhau. Có một cái gì đó kỳ lạ về bức ảnh. Trong ảnh chỉ thấy một người – Harry.
“Con trai của bà đó phải không ạ?” Anh hỏi.
Khuôn mặt của mẹ anh tối sầm xuống. Bà gật đầu nhưng không nói gì.
“Tôi nghĩ là tôi đã gặp anh ấy,” George ngập ngừng. “Tên anh ấy là Harry, phải không?”
Mẹ anh quay lại, trong cổ của bà có một âm thanh tắc nghẹn. Ông chồng vụng về quàng tay qua vai bà. Giọng của ông, trước giờ vẫn nhẹ nhàng và dịu dàng, đột nhiên trở nên khô cứng. “Anh không thể gặp nó được,” ông nói.
“Thằng bé đã mất lâu rồi. Nó chết đuối ngay vào cái ngày chụp bức ảnh đó”.
Tâm trí của George bay trở lại buổi chiều tháng 8 năm xưa đó. Hai anh em đã đến tiệm ảnh của Potter để chụp ảnh. Trên đường về nhà họ đã đi bơi. Goerge nhớ ra mình đã lôi cậu em lên bờ khi Harry bị chuột rút và rồi quên khuấy ngay chuyện đó. Nhưng giả sử anh đã không có ở đó!
“Tôi xin lỗi,” anh nói một cách rầu rĩ. “Tôi nghĩ là tôi phải lên đường. Hy vọng bà thích cái bàn chải. Xin kính chúc ông bà một Giáng sinh vui vẻ.” Anh lại lỡ lời một lần nữa, ai lại đi chúc họ lễ Giáng sinh vui vẻ khi họ đang nghĩ về đứa con trai chết trẻ.
Brownie kéo mạnh sợi xích của nó khi thấy George bước xuống những bậc thang và hộ tống anh ra cổng với một tiếng gầm gừ, thù địch.
Bây giờ thì George hết sức muốn được gặp Mary. Anh không chắc mình có thể chịu đựng nổi việc cô sẽ không nhận ra anh hay không, nhưng anh phải gặp cô.
Đèn trong nhà thờ đã sáng, và ca đoàn đang tiến hành những sự chuẩn bị phút chót cho buổi lễ đêm Giáng sinh. Chiếc đàn organ tập bài “Đêm Thánh” đêm này qua đêm nọ – cho đến khi George thấy muốn bệnh với nó. Nhưng bây giờ âm nhạc đang xé gần như tan nát trái tim anh.
Anh lần mò trên con đường dẫn tới ngôi nhà của mình. Sân cỏ không được cắt, và những bụi hoa anh từng tỉa cẩn thận đã bị bỏ bê, mọc lộn xộn bừa bãi. Chẳng ai tin là Art Jenkins có thể chăm sóc cho những thứ như vậy. Anh gõ cửa, sau một lúc lâu im lặng có tiếng hét của một đứa trẻ. Rồi Mary ra cửa.
Nhìn thấy nàng, giọng của George gần như nghẹn lại. Sau cùng anh cũng đã thốt lên được: “Chào bà, xin chúc mừng Giáng sinh”. Bàn tay anh run rẩy khi anh cố mở cái túi xách.
Khi bước vào phòng khách, mặc dầu đang rầu rĩ, George không thể không nhận ra – với một nụ cười bí mật rằng, chiếc ghế sofa màu xanh đắt tiền mà họ thường cãi nhau mua hay không, đã nằm đó.
Rõ ràng Mary đã trải qua cùng một điều với Art Jenkins và cũng đã chiến thắng cuộc tranh luận với anh ta.
George mở cái túi của mình. Một trong những bàn chải có cán màu xanh sáng và những sợi cước chải nhiều màu. Đó rõ ràng là một cái bàn chải không phải là để biếu không, nhưng George không quan tâm. Anh đưa nó cho Mary. “Cái này sẽ có ích cho cái ghế sofa của bà,” anh nói.
“Quá sức, cái bàn chải đẹp thật,” nàng kêu lên. “Ông cho không hả?”
Anh gật đầu nghiêm túc. “Hàng giới thiệu đặc biệt. Đó là một cách giúp công ty giữ được cho khoản tiền lời quá mức giảm xuống – chia sẻ với bạn bè. ”
Nàng nhẹ nhàng chải chiếc ghế sofa, vuốt mịn mặt lụa. “Cái bàn chải đẹp quá. Cảm ơn ông. Tôi… ” Từ trong bếp bất ngờ vang ra một tiếng thét, và rồi hai đứa trẻ ùa vào. Đứa con gái nhỏ bé, hiền lành lao vào vòng tay của mẹ, khóc nức nở trong khi cậu bé bảy tuổi chạy theo cô, vẩy vẩy một khẩu súng ngắn đồ chơi lên đầu cô bé. “Mẹ, nó không chịu chết,” thằng con trai hét lên. “Con đã bắn nó cả chăm phát, thế mà nó cứ nhất định không chết.”
Thằng bé thật giống Art Jenkins, George nghĩ. Cả hành vi cũng giống.
Cậu bé đột nhiên chuyển sự chú ý sang anh. “Ông là ai?” Cậu ta hùng hổ hỏi. Cậu chĩa súng vào George và kéo cò. “Ông đã chết rồi nhé!” Cậu bé la lên. “Ông tiêu rồi. Tại sao ông không chịu lăn ra chết?”
Có tiếng bước chân nặng nề trên hiên nhà. Cậu bé có vẻ hoảng hốt và lùi lại. George nhìn thấy Mary liếc mắt ra cửa.
Art Jenkins bước vào. Anh ta dừng lại ở ngưỡng cửa, tay phải bám vào nắm đấm để giữ cho thân hình đứng vững. Đôi mắt anh ta đỏ ngầu, cả khuôn mặt cũng thế. “Ai đây?” Anh ta lè nhè hỏi.
“Ông ấy là người chào hàng bàn chải,” Mary cố giải thích. “Ông ấy cho em cái bàn chải này.”
“Người chào bán bàn chải!” Art nhạo báng. “Nào, bảo anh ta hãy cút khỏi đây. Chúng tôi không muốn mua bàn chải. “Art nấc lên một cái rõ to rồi loạng choạng băng qua căn phòng đến chỗ cái ghế sofa, buông mình xuống đó. “Và chúng ta cũng chẳng muốn cả người bán bàn chải. ”
George nhìn Mary đầy thất vọng. Đôi mắt nàng van xin anh đi ra. Art đã đưa cả hai chân lên ghế sofa và nằm bẹp trên đó, miệng lẩm bẩm những lời tục tằn về những người bán bàn chải. George đi ra cửa, thằngcon trai của Art chạy theo, tiếp tục vẩy khẩu súng lục về phía anh : “Ông chết rồi nhé – chết- chết!”
Có lẽ thằng bé đã đúng, George nghĩ khi anh ra đến hiên nhà. Có lẽ anh đã chết, hoặc có lẽ đây là một giấc mơ tồi tệ mà anh rồi cũng có thể tỉnh dậy. Anh ta muốn tìm gặp người đàn ông nhỏ bé trên cây cầu một lần nữa để cố xin van ông ta hủy bỏ thỏa thuận.
George vội vã đi xuống đồi và vọt chạy lúc đến gần con sông. Anh nhẹ nhõm khi nhìn thấy người lạ mặt đang đứng trên cây cầu. “Tôi đã đủ rồi,” anh hổn hển. “Làm ơn đem tôi ra khỏi chuyện này – ông đã đưa tôi vào đó.”
Người lạ mặt nhướng mày. “Tôi đưa anh vào đó! Nói hay đấy! Anh đã được ban cho điều mà anh ước xin. Anh có được mọi thứ anh đã yêu cầu. Anh là con người tự do nhất trên trái đất bây giờ. Anh chẳng có liên quan đến ai. Anh có thể đi bất cứ nơi đâu – làm bất cứ điều gì. Anh còn có thể muốn gì hơn thế nữa?”
“Hãy biến tôi trở lại,” George van xin. “Làm ơn biến tôi trở lại. Không chỉ vì tôi mà còn vì nhiều người khác. Ông không biết cái thị trấn này đã bị lộn lạo đến mức nào. Ông không hiểu. Tôi phải trở lại. Họ cần tôi ở đây.”
“Phần tôi, tôi hiểu đủ rồi,” người lạ mặt từ tốn nói. “Tôi chỉ muốn chắc chắn rằng anh đã hiểu. Anh đã được ban cho một món quà tuyệt vời nhất – món quà của cuộc sống, là một phần của thế giới này và tham gia vào nó. Thế mà anh đã từ chối món quà đó. ”
Vào lúc người lạ mặt nói, chuông ở ngôi thánh đường trên đồi lên tiếng gọi những người ở thị trấn đi dự lễ Giáng Sinh. Sau đó, tiếng chuông nhà thờ ở trung tâm thành phố bắt đầu đổ vang.
“Tôi phải quay lại,” George nói một cách tuyệt vọng. “Ông không thể bỏ ngang tôi đi như thế này. Như thế là sát nhân! ”
“Anh phải nói đó là tự tử thì đúng hơn?” Người lạ mặt lẩm bẩm.
“Anh đã tự buộc lấy nó vào mình. Tuy nhiên, vì đây là đêm Giáng sinh, thôi, dù sao đi nữa, hãy nhắm mắt lại và tiếp tục lắng nghe tiếng chuông.” Giọng của ông ta dần thấp hơn. “Tiếp tục lắng nghe tiếng chuông…”
George làm như ông ta nói. Anh cảm thấy một giọt tuyết lạnh và ướt chạm vào má anh – và rồi một giọt nữa, một giọt nữa. Khi anh mở mắt ra, tuyết đang rơi nhanh, nhanh đến mức che khuất mọi thứ xung quanh anh. Anh không thể nhìn thấy người lạ mặt, nhưng cũng chẳng thể nhìn thấy mọi thứ khác. Tuyết dày đến nỗi George phải mò mẫm bám vào lan can cầu.
Khi anh bắt đầu bước về phía ngôi làng, anh nghĩ rằng anh đã nghe ai đó nói “Chúc mừng Lễ Giáng sinh vui vẻ”, nhưng những tiếng chuông đã át đi tất cả âm thanh khác, vì vậy anh không thể chắc chắn được là mình đã thực sự nghe thấy.
Khi đến chỗ nhà Hank Biddle, anh dừng lại và đi ra phía đường, chăm chú nhìn xuống phần dưới thấp của cây phong. Cám ơn trời, ở đó có cái sẹo!
Anh trìu mến chạm tay vào thân cây. Anh sẽ phải làm điều gì đó cho chỗ thương tích này – có lẽ phải tìm một chuyên viên chăm sóc cây hoặc một cái gì đó. Dù sao, rõ ràng là anh đã được biến trở lại. Anh lại là chính mình.
Có lẽ đó là một giấc mơ, hoặc có lẽ anh đã bị dòng nước đen trôi dưới chân cầu thôi miên. Anh từng nghe về những điều như vậy.
Ở góc đường Main và Bridge, suýt nữa anh đâm vào một người đang vội vã. Đó là Jim Silva, tay đại lý bất động sản.
“Chào George,” Jim vui vẻ nói. “Làm việc trễ tối nay, phải không? Tôi nghĩ anh muốn về nhà sớm vào đêm Giáng sinh.”
George hít một hơi dài. “Tôi chỉ muốn xem ngân hàng có ổn không. Tôi phải chắc chắn rằng đèn ở cửa kho đã được bật lên.”
“Chắc chắn rồi. Tôi nhìn thấy ánh đèn khi tôi đi qua.”
“Chúng ta hãy cùng nhìn lại lần nữa xem, hả?” George nói, kéo tay áo của Silva. Anh ta muốn có sự bảo đảm của một nhân chứng. Anh ta bất ngờ kéo tay đại lý bất động sản về phía trước của ngân hàng, nơi ánh sáng lấp lánh qua những bông tuyết rơi. “Tôi đã nói với anh bạn rằng đèn đã được bật lên,” Silva nói với vẻ hơi bực bội.
“Tôi phải chắc chắn,” George lầm bầm. “Cám ơn anh và chúc mừng Giáng sinh!” Sau đó anh vọt chạy lên đồi.
Anh vội vã về nhà, nhưng không vội vã đến nỗi không thể dừng lại nhà bố mẹ anh một lúc, nơi anh vật lộn với Brownie cho đến khi con chó bulldog thân thiện vẫy đuôi loạn xạ vì vui vẻ. Anh nắm lấy bàn tay chú em Harry, người đang ngạc nhiên và lắc một cách điên cuồng, chúc chú một lễ Giáng sinh vui vẻ. Rồi anh đi qua phòng khách để xem lại một bức ảnh. Anh hôn mẹ, nói đùa với bố, và ra khỏi nhà vài giây sau đó, vấp ngã và trượt trên mặt tuyết mới rơi khi anh chạy lên trên đồi.
Nhà thờ tràn ngập ánh sáng, cả ca đoàn lẫn chiếc đàn organ đã mở hết cường độ. George mở cửa ngôi nhà của mình, anh hét lên: “Mary! Em ở đâu? Mary! Các con!”
Vợ anh đến gần anh, nàng đã tề chỉnh trong bộ quần áo để đi nhà thờ, và ra dấu cho anh giữ im lặng. “Em vừa cho các con ngủ,” nàng phản đối. “Bây giờ chúng sẽ…” Nhưng không một lời nào nữa có thể thoát ra khỏi miệng nàng, vì anh đã hôn nàng, và sau đó kéo nàng lên phòng mấy đứa trẻ. Tại nơi đó anh đã vi phạm tất cả các nguyên tắc dạy con bằng cách điên cuồng ôm hôn thằng con trai rồi đứa con gái, làm chúng nó thức dậy.
Mãi cho đến khi Mary đưa anh xuống cầu thang thì anh mới bắt đầu ăn nói mạch lạc. “Anh tưởng là anh đã mất em. Ô Mary, Anh tưởng là anh đã mất em!”
“Có chuyện gì vậy, anh yêu?” Nàng hoang mang hỏi.
Anh kéo nàng xuống ghế sofa và hôn nàng một lần nữa. Và rồi, khi anh sắp kể cho nàng nghe về giấc mơ kỳ dị của mình, những ngón tay anh chạm vào một vật gì đó nằm trên chiếc sofa.
Anh không nói được nữa.
Thậm chí anh không cần phải nhặt cái vật đó lên, vì anh đã biết nó là cái gì. Và anh còn biết rằng nó có một cái cán màu xanh cùng những sợi cước nhiều màu.