Sears của một thời

42

Huy Lâm

Kể từ khi hệ thống tin học internet xuất hiện và được sử dụng rộng rãi từ một phần tư thế kỷ nay, nó đã làm thay đổi hầu như mọi thứ sinh hoạt trong xã hội, trong đó có ngành kinh doanh bán lẻ. Nhiều cửa hàng bán lẻ mới trên mạng dần dà xuất hiện và lớn mạnh, trong đó nổi bật nhất có Amazon. Nhưng đồng thời nhiều công ty bán lẻ truyền thống khác trở thành nạn nhân của nó và buộc phải đóng cửa vì đã không cập nhật đúng với sự thay đổi trong thói quen mua sắm của người tiêu thụ.

Và nạn nhân mới nhất của internet là hệ thống cửa hàng bán lẻ Sears – vừa mới khai phá sản trong tuần lễ giữa tháng 10 vừa qua.

Vào thời hoàng kim của nó, Sears từng là một anh khổng lồ có thể nghiền nát bất cứ đối thủ nhỏ hơn nào. Nó không chỉ là cửa hàng bán lẻ lớn nhất mà còn là công ty lớn nhất nước Mỹ.
Nhưng từ thập niên 1990, Sears bắt đầu mất dần ưu thế cạnh tranh với những cửa hàng bán lẻ lớn khác như Walmart và Target, nơi người tiêu thụ tìm thấy nhiều mặt hàng hơn, kể cả thực phẩm, và giá lại rẻ hơn. Cùng lúc, công việc kinh doanh các mặt hàng về dụng cụ và máy móc, đứng đầu là thương hiệu Craftman, cũng mất dần ưu thế với cửa hàng Home Depot.

Trong khi khách hàng cứ ngày càng bỏ Sears để tới mua sắm tại các cửa hàng bán lẻ lớn khác cũng đã làm ảnh hưởng dây chuyền và kéo xuống theo ngành kinh doanh đồ gia dụng mang lại rất nhiều lợi lộc cho công ty Sears. Đã có lúc hơn 40 phần trăm đồ gia dụng trên thế giới bán ra là từ cửa hàng Sears. Cho đến năm ngoái, con số này rút lại chỉ còn 3 phần trăm.

Thế nên có người đã so sánh công ty Sears giống như một chiếc đồng hồ bỏ túi của thế kỷ 19. Đối với giới mua sắm thời nay, chiếc đồng hồ bỏ túi không có gì là hấp dẫn cả. Nó không hợp thời trang, hơn nữa lại quá cũ và có thể còn bị hư hỏng chỗ này chỗ kia. Vậy thì tại sao không bỏ quách đi cho xong chứ giữ lại làm gì một vật không còn bao nhiêu giá trị nữa. Tuy nhiên đối với một số người khác, Sears không chỉ là một đồ vật cổ, có thể không quý, nhưng đáng được xem như một thành quả vì nó đã đồng hành với người dân Mỹ hơn một thế kỷ nay; và trong một thời gian khá dài, khi người ta cần mua sắm những vật dụng cần thiết cho gia đình, Sears là nơi để ghé tới.

Nhưng với giới tiêu thụ ngày nay, nếu có khi nào bất chợt đi ngang qua một cửa hàng Sears, người ta thấy nó giờ đây quá sức tầm thường, tệ hơn nữa, là biểu hiện của sự thất bại. Trong vòng 5 năm qua, công ty Sears đã bị lỗ gần $6 tỷ và phải đóng cửa hơn 1,000 cửa tiệm. Không hẳn tất cả mọi cuộc phá sản đều nghiêm trọng, nhưng có thể nói sự phá sản của Sears gây ra một bầu không khí ảm đạm, ủ rũ như một cái đám ma. Từ nhiều năm nay, Sears càng ngày càng lún sâu vào vũng lầy của nợ nần, và vì vậy, ngày tàn của nó nhiều người đã thấy trước.

Tuy nhiên, bất cứ thứ gì trên đời này kéo dài được tuổi thọ tới 132 năm, như Sears đã làm được, thì chắc hẳn cũng xứng đáng được nhận một vài lời ai điếu tử tế chứ. Và không một công ty hay một tổ chức nào tồn tại lâu như thế mà không làm được một vài điều đúng đắn.

Câu chuyện của công ty Sears được bắt đầu với những chiếc đồng hồ bỏ túi. Vào đầu thập niên 1880, một công nhân hoả xa tên Richard Warren Sears được sở hữu cả một hộp đồng hồ bị bỏ đi từ một cửa tiệm ở địa phương. Ông đem bán những chiếc đồng hồ đó cho những công nhân hoả xa khác và kiếm được một món tiền lời kha khá. Từ đó ông nẩy ra một ý tưởng mới: Làm trung gian bán những mặt hàng của người khác làm.

Được sự giúp đỡ của một thợ sửa đồng hồ tên Alvah C. Roebuck, Sears mở một cơ sở kinh doanh bán hàng qua bưu tín tại Chicago – lấy tên là Sears, Roebuck. Ý tưởng mới này là gửi những cuốn danh mục hàng hoá tới khách hàng, sử dụng hệ thống bưu tín của Hoa Kỳ để bảo đảm có thể giao hàng tới tận những vùng xa xôi hẻo lánh. Lúc đầu, cuốn danh mục chú trọng tới những mặt hàng nữ trang nam nữ, như đồng hồ và vòng xuyến. Trong vòng 10 năm, cuốn danh mục ngày càng dày lên tới hơn 500 trang. Không lâu sau đó, cái cuốn sách được xem như cuốn cẩm nang của người tiêu thụ đã được nhiều người tìm đọc như một bảng mục lục kê khai toàn thể nền kinh tế Hoa Kỳ. Công ty bán đủ mọi thứ, từ búp bê, quần áo, đến bia mộ, và thậm chí bán cả những căn nhà để người mua tự xây dựng lấy. Hàng chục thập niên trước khi xuất hiện cái mà ta gọi là kỹ thuật cao như ngày nay thì chính Sears là một thứ công ty kỹ thuật cao của thời đại đó.

Nhưng đó vẫn chưa phải là thành quả lớn nhất mà Sears đã đạt được. Trong thập niên 1920, người dân Mỹ bắt đầu từ từ rời bỏ ruộng vườn vùng nông thôn và dọn tới thành thị làm việc trong các nhà máy. Sears nắm lấy cơ hội mở ra các cửa hàng bán lẻ phục vụ cho lớp người tiêu thụ mới này. Đầu năm 1925, cả nước Mỹ chưa có một cửa hàng Sears nào. Vậy mà chỉ bốn năm sau, năm 1929, Sears đã có 300 cửa hàng. Và rồi không lâu sau đã tăng lên thành con số ngàn. Khi mà nước Mỹ ngày càng có nhiều người lái xe thì cũng là lúc người ta cần đến Sears để mua đồ phụ tùng, và Sears đã khai trương thêm phân bộ mới để bán bảo hiểm xe. Nhờ đó, Sears đẻ ra công ty bảo hiểm Allstate như ta biết ngày nay. Sears còn vươn tay vào trong những lãnh vực như bất động sản và đầu tư. Đã có lúc vào khoảng giữa thế kỷ 20, các bản phúc trình kinh tế cho biết cứ mỗi 100 Mỹ kim người Mỹ tiêu dùng thì có 1 Mỹ kim rơi vào túi của Sears.
Cho đến giữa thập niên 1980, Sears vẫn còn là cửa hàng bán lẻ lớn nhất ở Mỹ với doanh thu $27 tỷ. Thứ nhì là Kmart với doanh thu $23 tỷ. Cửa hàng Walmart cho đến lúc đó mới chỉ ở hạng 7 với doanh thu $12 tỷ. Đúng một thập niên sau, năm 1996, Walmart vươn lên thống trị hệ thống cửa hàng bán lẻ với doanh thu $96 tỷ. Sears và Kmart, mặc dù bị thụt lùi vẫn đứng ở vị trí nhì và ba với doanh thu gộp lại là $70 tỷ, và vẫn còn đủ sức cạnh tranh. Nhưng đến năm 2006, thế giới kinh doanh bán lẻ thật sự đã thay đổi. Hai công ty Sears và Kmart được gom lại thành một vào năm 2004, có tổng số doanh thu là $54 tỷ,và trong khi Walmart, Home Depot, Costco, Walgreens và một số công ty mới nổi lên khác vào thời điểm đó vạch hướng đi tương lai cho ngành kinh doanh bán lẻ thì Sears lại đi ngược hướng. Đó là chưa nói tới sự bắt đầu vươn lên của công ty Amazon vào lúc đó với doanh thu khiêm nhượng là $6 tỷ trong khu vực Bắc Mỹ. Và với tốc độ thay đổi của ngành kinh doanh bán lẻ kể từ đó cũng ngày một nhanh hơn, bất cứ công ty nào không theo kịp sớm muộn gì cũng bị hất ra khỏi cuộc chơi.

Bi kịch trớ trêu trong câu chuyện về Sears chính là ở kỹ thuật truyền thông, được đem áp dụng một cách tuyệt vời trong thời kỳ vươn lên rực rỡ, nhưng cũng chính nó góp phần đưa đến sự sụp đổ của công ty. Trong thập niên 1980, Walmart và những cửa hàng bán lẻ hiện đại hơn đã biết sử dụng loại kỹ thuật mới được gọi là kỹ thuật số để tìm hiểu và nghiên cứu xem khách hàng mua những gì và sau đó gửi những kết quả tìm được về tổng hành dinh của họ để công ty có thể đặt mua sỉ những mặt hàng và thương hiệu bán được chạy nhất. Sân chơi mới của Walmart là bán hàng rẻ có hiệu quả, và đó là lý do đưa tới sự sa đà của Sears. Vào đầu thập niên 1980, tính theo tổng số doanh thu, Sears lớn hơn Walmart gấp năm lần. Cho đến đầu thập niên 1990, Walmart đã qua mặt và lớn gấp hai lần Sears.

Đến nay lại có thêm một cửa hàng bán lẻ khác mà lúc đầu được nổi tiếng nhờ chỉ bán độc một mặt hàng là sách và rồi đã phát triển để trở thành một anh khổng lồ trong ngành kinh doanh bán lẻ ở Mỹ mà dường như cánh tay của nó đã vươn tới hầu như tất cả mọi ngành kinh doanh khác. Đó là công ty Amazon. Công ty bán lẻ đủ mọi thứ này, so ra ở nhiều mặt, cũng là một thứ cửa hàng Sears của thời hiện đại. Bắt đầu bằng bán hàng qua cuốn danh mục, Sears xây dựng một mô hình kinh doanh có khả năng xem xét và biết được người tiêu thụ ở Mỹ ưa thích những món hàng nào. Nhưng rồi trong mấy thập niên qua, Walmart và Amazon đã xây dựng được một mô hình kinh doanh tốt hơn, theo kịp thời đại, để vừa quan sát vừa đoán trước được thói quen mua sắm và sản phẩm nào mà người tiêu thụ ưa chuộng.

Phần kết cuộc của công ty Sears là câu chuyện buồn không chỉ đối với nhân viên của họ mà luôn cả với khách hàng và các trung tâm mua sắm. Nhưng trên đời này đâu có thứ gì tồn tại mãi được. Với 132 năm góp mặt trong dòng sinh hoạt của xã hội Mỹ là quãng thời gian rất dài, dài hơn thời gian có mặt của bốn công ty có trị giá cao nhất trên thế giới hiện nay – Apple, Amazon, Microsoft và Alphabet (Google) – gộp lại. Vậy ta không nên xem công ty Sears như là biểu tượng của sự thất bại. Nó chỉ là chiếc đồng hồ bỏ túi đã bị hư, như có người đã ví von, và sau này nếu có nhớ lại thì nên coi đó như một thành quả phi thường của một thời, kể cả sau khi nó đã ngưng hoạt động.

Huy Lâm